Trong lúc di chuyển từ Philadelphia đến New York, tôi bị kẹt xe. “Sao lúc nào cũng là tôi hết vậy?”, tôi rên rỉ. Liếc qua phía đường bên kia, tôi thấy những tay tài xế hướng ngược về phía nam một cách thảnh thơi, lướt qua mặt với một vận tốc đáng ghen tỵ. Khi tôi trải qua thêm một giờ nữa nhích về phía trước với tốc độ sên bò, và bắt đầu nhấp phanh và nhả ga không ngừng nghỉ, tôi tự hỏi liệu mình có thực sự bất hạnh tới mức này chăng? Liệu tôi có luôn chọn phải một hàng đợi tệ hại nhất ở ngân hàng, bưu điện, và cửa hàng tạp hóa? Hay là tôi chỉ nghĩ là tôi bị như vậy?

Giả sử rằng, trên tuyến đường cao tốc này, một vụ kẹt xe chiếm 10% số thời gian. Xác suất để tôi bị kẹt xe vào một ngày nhất định không lớn hơn xác suất vụ kẹt xe đó diễn ra. Dẫu vậy, độ chắc chắn về việc tôi kẹt xe tại một điểm nào đó trên hành trình của mình lại lớn hơn 10%. Lý do là: Vì tôi chỉ có thể nhích dần về trước khi đang kẹt xe, tôi trải qua một lượng thời gian không cân đối trong tình trạng này. Bên cạnh đó, nếu xe cộ phóng vù vù trên đường, viễn cảnh này còn chẳng hiện lên trong trí óc tôi. Nhưng vào thời điểm nó diễn ra và tôi bị kẹt lại, tôi chú ý tới nó.

Điều tương tự cũng áp dụng cho những hàng đợi tại các quầy phục vụ ở ngân hàng, hoặc tại các trụ đèn giao thông: Hãy cùng xét một đoạn đường giữa 2 điểm A và B có 10 trụ đèn giao thông. Trung bình sẽ có 1 trên 10 đèn luôn có màu đỏ, và những đèn khác màu xanh. Tuy vậy, bạn có thể trải qua hơn 10% trên tổng số thời gian di chuyển của mình chỉ để đợi ở đèn đỏ. Nếu điều này nghe không đúng lắm, hãy tưởng tượng là bạn đang di chuyển gần với vận tốc ánh sáng. Trong trường hợp này, bạn hẳn sẽ mất 99,9% (không phải 10% nhé) trên tổng số thời gian hành trình chỉ để đợi và ngồi rủa trước những trụ đèn giao thông đỏ rực.

Bất cứ khi nào chúng ta than phiền về vận rủi, chúng ta cần phải cảnh giác với cái gọi là thiên lệch tự chọn (self-selection bias). Những ông bạn của tôi thường kêu ca rằng trong công ty của bọn họ có quá ít phụ nữ, và các cô bạn của tôi lại phàn nàn rằng công ty của họ có quá ít quý ông. Điều này chẳng liên quan gì đến vận rủi: Những người than phiền hợp thành một phần của một tập mẫu. Xác suất cao là một người đàn ông sẽ làm việc trong một ngành mà hầu hết là đàn ông. Cánh phụ nữ cũng vậy. Trên một quy mô rộng lớn hơn: Nếu bạn sống tại một quốc gia mà có phần lớn là đàn ông hay phụ nữ ( như là Trung Quốc, hay Nga, lần lượt tương ứng), bạn chắc chắn hình thành một phần của nhóm lớn hơn và theo đó cảm thấy đời thật bất công. Trong những cuộc bầu cử, điều khả năng nhất là bạn sẽ chọn phe lớn nhất. Trong việc bình chọn, điều chắc chắn nhất là phiếu bầu của bạn sẽ ứng với đa số thắng cuộc.

Thiên lệch tự chọn ngập tràn mọi nơi. Những phát thị viên (marketer) thỉnh thoảng lại mắc bẫy này theo kiểu sau: Để phân tích xem khách hàng đánh giá thư báo của họ giá trị bao nhiêu, họ phát một bảng thăm dò. Thật không may, bảng này chỉ tiếp cận một nhóm duy nhất: những người vẫn còn đăng ký nhận thư báo, là những người hoàn toàn hài lòng, có thời gian để trả lời, và chưa hủy dịch vụ thư báo của họ. Những người khác chẳng góp phần nào trong tập mẫu khảo sát. Kết quả: Cuộc thăm dò vô dụng.

Cách đây không lâu, một người bạn khá là ủy mị nhận ra một điều gần như kỳ diệu là anh ta -vâng, chính anh ta! – tồn tại. Một nạn nhân kinh điển của thiên lệch tự chọn. Chỉ những ai còn sống mới có thể thực hiện một quan sát như vậy. Những điều phi thực thể thường chẳng mấy quan tâm sự không tồn tại của chúng quá lâu. Vậy nhưng chính ảo ảnh tương tự này làm nên cơ sở của ít nhất là một tá sách của các triết gia, như họ đã kinh ngạc hết năm này sang năm khác về sự phát triển của ngôn ngữ. Tôi thì khá là thông cảm cho sự kinh ngạc của họ, nhưng nó thuần túy là bất hợp lý. Nếu ngôn ngữ không tồn tại, các triết gia đã chẳng thể nào tôn kính nó tí nào – thực tế là, còn chẳng có lấy triết gia nào nữa kìa. Phép màu của ngôn ngữ chỉ hiển nhiên trong môi trường mà nó tồn tại.

Điều cực kỳ hài hước là câu chuyện về cuộc khảo sát qua đường dây điện thoại gần đây: Một công ty muốn tìm hiểu xem, trung bình có bao nhiêu điện thoại (cố định và di động) mà mỗi hộ gia đình sở hữu. Khi các kết quả được kiểm tra, công ty đã ngạc nhiên là chẳng có hộ gia đình nào báo là không có điện thoại. Thật là một kiệc tác.

Rolf Dobelli – The Art of Thinking Clearly

Nguồn của tác giả:

Về sự ươm mầm các nguồn quỹ: “Một hình thức thận trọng hơn về thiên lệch tự chọn thường xảy ra trong việc đo lường hiệu suất của các nhà quản lý đầu tư. Thường thường, một số quỹ được lập nên là các quỹ được ươm mầm trước: giữ bí mật với công chúng cho đến khi chúng có được một bản track record (thành tích quá khứ). Những nguồn quỹ thành công sẽ được tiếp thị đến đại chúng, còn những quỹ thất bại sẽ vẫn được ươm cho đến khi chúng thành công. Bên cạnh đó, các nguồn quỹ thất bại liên tục (dù có trong thời kỳ ươm mầm hoặc không) thường bị đóng lại, tạo thành thiên lệch sống sót. Điều này còn hiệu quả hơn nhiều vì xu hướng của các nhà đầu tư chọn các nguồn quỹ từ đỉnh của các bảng xếp hạng liên đoàn (league table) bất kể hiệu suất từ các nguồn quỹ khác của các nhà quản lý.” Trích từ Moneytermshttp://moneyterms.co.uk/self-selection-bias.

“Không phải là không phổ biến khi ai đó xem trận đấu quần vợt trên truyền hình rồi bị dội hàng mớ quảng cáo về các nguồn quỹ mà (cho tới khi đó) hiệu quả hơn các nguồn khác vài % nào đó trong một khoản thời gian nào đó. Nhưng, một lần nữa, tại sao ai lại đi quảng cáo nếu anh ta không chiếm lĩnh thị trường? Có một xác suất cao là khoản đầu tư đang chào mời bạn là do sự thành công của nó hoàn toàn là do ngẫu nhiên mà ra. Hiện tượng này được các nhà kinh tế học và những người trong ngành bảo hiểm gọi là lựa chọn trái ý (adverse selection).” Nassim Nicholas Taleb, Fooled by Randomness: the hidden Role of Chance in Life and in the Markets, bản cập nhật lần 2 ( New York: Random House, 2004), 158.

Thêm: https://jonoscript.wordpress.com/2010/10/09/test-pilot-self-selection-bias-and-how-to-compensate-for-it/

Advertisements